Chuyển đổi xanh: Cơ hội lớn, lâu dài

Dù phải đối mặt với những thách thức trước mắt nhưng mục tiêu Net Zero vào năm 2050 mà Chính phủ Việt Nam theo đuổi, hay cam kết chống suy thoái rừng theo quy định EUDR sẽ áp dụng vào cuối năm 2024 đều mang đến cho ngành chế biến gỗ cơ hội lớn, lâu dài.

 

Trong xu hướng tiêu dùng bền vững, ngành gỗ được hưởng lợi từ sở thích sử dụng các vật liệu gỗ thay thế cho vật liệu có phát thải cao như kim loại, nhựa, bê tông…

Vật liệu gỗ lên ngôi

Không chỉ được sử dụng nhiều trong sản phẩm nội thất như trước đây, nguyên liệu gỗ còn có cơ hội lớn trong ngành xây dựng với Mass Timber (gỗ cấu kiện lớn). Vật liệu từ gỗ cũng sẽ được dùng nhiều trong ngành năng lượng sinh khối tái tạo (renewable biomass energy), ngành tiêu dùng, bao bì… vì khả năng phát thải thấp, dễ phân hủy và tái chế.

Với khả năng phát thải âm, ngành công nghiệp gỗ, đặc biệt là lâm nghiệp có thể đạt lượng tín chỉ carbon để giao dịch bù đắp cho các ngành công nghiệp khác (tín chỉ carbon là thuật ngữ chung cho tín chỉ có thể kinh doanh hoặc giấy phép đại diện cho 1 tấn carbon dioxide (CO2) hoặc khối lượng của một khí nhà kính khác tương đương với 1 tấn CO2 (tCO2e). Việc mua bán phát thải khí CO2 hay mua bán carbon trên thị trường được thực hiện thông qua tín chỉ). Trong giai đoạn 2010-2020, hàng năm, ngành lâm nghiệp phát thải khoảng 30,5 triệu tCO2e và hấp thụ -69,8 triệu tCO2e.

Thách thức đối với ngành công nghiệp gỗ và ngành lâm nghiệp là phải xây dựng nguồn nguyên liệu đủ và ổn định về khối lượng cả trong nước lẫn nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu đa dạng của các nhóm ngành công nghiệp gỗ, đồng thời bảo đảm mục tiêu bền vững môi trường trong nước và các cam kết quốc tế của Việt Nam. Một thách thức khác là việc xây dựng hạ tầng quản trị nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, doanh nghiệp, người dân có thể tận dụng cơ hội từ thị trường tín chỉ carbon.

Nguồn tín chỉ carbon dồi dào từ rừng

Cơ hội về tín chỉ carbon trong ngành công nghiệp gỗ sẽ đến từ carbon lâm nghiệp. Việt Nam có 14,2 triệu hecta rừng, chiếm 42% diện tích đất nước, trong đó rừng tự nhiên trên 10 triệu héc ta, còn lại là rừng trồng. Ở cả hai khu vực rừng tự nhiên và rừng trồng, nếu quản trị hiệu quả, chứng minh được sự tăng trưởng sinh khối và giảm phát thải thì đây chính là nguồn tín chỉ carbon dồi dào. Vừa qua Việt Nam đã nhận được hơn 41 triệu USD đầu tiên (tương đương với 10,3 triệu tín chỉ carbon) từ Ngân hàng Thế giới (WB) do chuyển nhượng tín chỉ carbon rừng.

Đặc biệt, Việt Nam còn có cơ hội từ việc trồng rừng cho mục tiêu lấn biển, giữ đất ở khu vực biển phía Nam, Tây Nam từ Cần Giờ (TP. Hồ Chí Minh), Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang… Riêng trong lĩnh vực chế biến gỗ, về cơ bản đây vẫn là ngành phát thải âm, nếu doanh nghiệp xây dựng được hệ thống kiểm đếm phát thải khí nhà kính, hệ thống giúp truy vết dấu chân carbon (carbon footprint) thì khả năng sẽ có thừa tín chỉ carbon để thương mại, có nguồn thu ngoài sản phẩm chính. Những ngành như Mass Timber có nhiều tiềm năng khi sử dụng nhiều gỗ mà phát thải chế biến thấp, chưa kể ngành công nghiệp sử dụng nhiều gỗ sẽ thúc đẩy việc trồng rừng, đặc biệt là trồng rừng gỗ lớn, sinh trưởng nhanh.

Thị trường carbon đang đến gần

Hiện nay Việt Nam đã có Luật Lâm nghiệp, các quy định VNTLAS – Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp, các Nghị định 102/2020/NĐ-CP quy định hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam, Nghị định 156/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp… Chính phủ cũng đang xây dựng các quy định để tạo hành lang pháp lý cho thị trường tín chỉ carbon. Gần đây nhất là Nghị định 06/2022/NĐ-CP quy định cụ thể lộ trình phát triển, thời điểm triển khai thị trường carbon trong nước. Theo đó, đến hết năm 2027 sẽ xây dựng quy định quản lý tín chỉ carbon, hoạt động trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon; Xây dựng quy chế vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon; Triển khai thí điểm cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong các lĩnh vực tiềm năng và hướng dẫn thực hiện cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong nước cũng như quốc tế phù hợp với quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; Thành lập, tổ chức vận hành thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon kể từ năm 2025; Triển khai các hoạt động tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức về phát triển thị trường carbon. Từ năm 2028 sẽ vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon chính thức.

Thời gian không còn nhiều nữa. Do vậy, bên cạnh hệ thống chính sách pháp luật đầy đủ thì cũng rất cần một cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh hỗ trợ cho thị trường. Cụ thể là cơ sở hạ tầng về dữ liệu lâm nghiệp, nông nghiệp. Cơ chế quản trị cơ sở dữ liệu này sẽ giúp người dân, các tổ chức, doanh nghiệp truy xuất nguồn gốc, xác minh các giao dịch. Bên cạnh đó, chuyển đổi số trong việc thiết lập cơ sở dữ liệu quốc gia về nông – lâm nghiệp và tạo điều kiện cho các nền tảng truy xuất, xác minh, quản trị phát thải khí nhà kính sẽ đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả, giảm chi phí trung gian hành chánh. Từ đó, giúp doanh nghiệp và người dân được hưởng lợi tối đa từ hiệu quả của thị trường tín chỉ carbon.

Trong nhiều năm qua, do đặc thù tài chính của Việt Nam có lãi suất thương mại khá cao, hạn chế người dân, doanh nghiệp trồng rừng gỗ lớn với chu kỳ khai thác dài (thông thường 5~7  năm). Với việc có được sự hỗ trợ của thị trường carbon, Nhà nước, các định chế ngân hàng và bảo hiểm cần vào cuộc để tạo ra cơ chế thúc đẩy trồng rừng gỗ lớn, vừa tạo đầu ra có giá trị gia tăng cao, vừa thêm thu nhập từ tín chỉ carbon.

Ông Nguyễn Quốc Khanh – Chủ tịch HAWA

H.T ghi

Chia sẻ bài viết:

Tin mới nhất

Gây dựng nội lực trên bốn trụ cột, ba nền tảng

Với mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 25 tỷ USD vào năm 2030, ngành gỗ đang đứng trước bước ngoặt quan trọng: từ bỏ mô hình gia công thuần túy để chuyển mình thành ngành công nghiệp tự cường, xây dựng nội lực vững chắc dựa trên bốn trụ cột Xanh - Chất lượng - Linh hoạt - Cạnh tranh....

Thông Báo: Hoa Kỳ áp Thuế nhập khẩu tạm thời 10% sản phẩm Gỗ

Ngày 20/02/2026, sau khi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ bác bỏ cơ chế “thuế đối ứng” theo IEEPA, Tổng thống Hoa Kỳ đã quyết định vận dụng Điều 122 của Đạo luật Thương mại 1974 để áp mức thuế nhập khẩu bổ sung tạm thời 10% nhằm “giải quyết vấn đề cân đối thanh […]

...

Hợp lực vì một ngành gỗ tự cường

Tiến trình sáp nhập giữa Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh (HAWA) và Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương (BIFA) đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của ngành. Đây không chỉ là sự sáp nhập về mặt tổ chức mà còn là sự cộng hưởng giá trị, giúp doanh nghiệp (DN) đối phó tốt hơn với những biến động khó lường của thị trường toàn cầu....

Cơ hội vàng mang tên D2C

Trong bối cảnh thương mại điện tử toàn cầu đang tái định hình ngành nội thất, mô hình Direct-to-Consumer (D2C) không còn là xu hướng bổ trợ mà đã trở thành chiến lược tất yếu để doanh nghiệp (DN) tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng, đây là mô hình kinh doanh chủ động, tối ưu lợi nhuận và xây dựng thương hiệu bền vững....

Tinh thần chia sẻ và chiến lược tổng lực

Bước sang năm 2026, khả năng tăng trưởng của ngành hoàn toàn có thể đạt hai con số. Ngành gỗ đang đứng trước một vận hội lớn, không chỉ bứt phá về con số mà còn tạo nên bước chuyển mình về chất. ...

Từ làng nghề đến thương hiệu quốc gia

Với hơn 5.400 làng nghề truyền thống, ngành thủ công mỹ nghệ sở hữu lợi thế hiếm có. Liên kết chuỗi, tự cường nguồn lực và xây dựng thương hiệu chung sẽ là chìa khóa để ngành phát triển bền vững và vươn tầm quốc tế....

Tái định vị Việt Nam trên chuỗi cung ứng nội thất toàn cầu: Những chuyển dịch trước mắt

Ngành nội thất toàn cầu đang bước vào giai đoạn chuyển dịch mang tính tái cấu trúc trong bối cảnh thế giới liên tục chịu tác động từ đại dịch, căng thẳng địa chính trị, xung đột khu vực, làn sóng bảo hộ thương mại mới và đặc biệt là làn sóng công nghệ. ...

Hướng đi của ngành nội thất Việt Nam

Vai trò của Chính phủ trong tái định hình chuỗi cung ứng ngày càng rõ nét. Các chính sách chiến lược kinh tế (friend-shoring) và kiểm soát xuất xứ hàng hóa được triển khai song song với thuế quan nhằm đảm bảo an ninh kinh tế....