Người Việt sở hữu nếp sống và gu thẩm mỹ đặc trưng, cần được bảo tồn và phát huy. Nếu máy móc áp dụng những chuẩn mực thiết kế phổ biến trên thế giới, ngôi nhà có thể đẹp nhưng chưa chắc phù hợp với nhịp sống thụ hưởng của người Việt.
Người Việt cần một hệ chuẩn khác
Khoảng 7 năm trước, tôi xây nhà cho mẹ. Theo kiến thức được đào tạo, bếp phải cao 850 – 900mm để đặt máy rửa chén và các thiết bị hiện đại. Tôi thiết kế đúng “chuẩn”, nhưng quên rằng mẹ tôi chỉ cao 1,47m. Khi thấy mẹ nấu ăn, nhất là lúc chiên hoặc dùng nồi cao, bà phải với tay một cách rất vất vả. Tôi chợt nhận ra: Chuẩn mực có ý nghĩa gì nếu người dùng lại chịu thiệt thòi trong suốt quá trình sử dụng?
Cuối cùng, tôi đập bỏ toàn bộ khu bếp và làm lại ở mức 730mm. Từ đó, mọi thao tác nấu nướng của mẹ trở nên thoải mái, việc lấy chén trên kệ cũng nhẹ nhàng hơn. Dù tốn thời gian và chi phí, đổi lại là sự tiện nghi và hạnh phúc của người dùng, mẹ tôi, cho đến tận bây giờ. Kinh nghiệm ấy khiến tôi hiểu rằng: Người Việt cần một hệ chuẩn khác.
Thực tế, chiều cao trung bình của phụ nữ Việt Nam thấp hơn thế giới khoảng 10cm, đàn ông thấp hơn khoảng 13cm. Với thể trạng luôn thấp hơn chuẩn phổ quát 10cm, việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế (bếp 750 – 850mm, bàn ăn 750mm, ghế 450mm) chưa hẳn phù hợp.
Bản sắc Việt trong nội thất không chỉ là màu sắc hay hoa văn truyền thống, mà còn là nếp sống và thói quen sinh hoạt. Người Việt thích nhà sáng sủa, thoáng, nhiều gió trời và ánh sáng tự nhiên. Phòng khách không chỉ để tiếp khách mà còn là không gian trò chuyện, tổ chức giỗ chạp, tiệc tùng hay sinh hoạt gia đình. Thiết kế vì thế phải ưu tiên nhu cầu sinh hoạt trung tâm.
Người Việt nấu ăn thường “đậm mùi”, đòi hỏi hệ thống hút – ngăn mùi hiệu quả, vật liệu khó bám mùi, cùng kích thước bếp phù hợp với văn hóa ẩm thực.
Về thói quen ăn uống, người Việt thường gắp chung, chấm chung, một hành vi mang tính truyền thống. Khi bàn ăn quá dài (hình chữ nhật), người ngồi xa khó với tay. Vì vậy, bàn ăn đường kính khoảng 1- 1,2m sẽ thuận tiện hơn.
Trong phòng ngủ, chuẩn quốc tế thường đặt giường giữa phòng, đặc biệt trong khách sạn. Nhưng người Việt lại thích kê sát tường để tạo cảm giác ấm cúng và an toàn. Thiết kế phòng ngủ vì thế cần lưu ý thói quen này. Bên cạnh đó, đa số gia đình Việt đều có không gian thờ cúng. Nhang khói gây ám màu trần, đòi hỏi người thiết kế phải có giải pháp kỹ thuật để hóa giải.
Tình yêu văn hóa trở thành ngôn ngữ nội thất
Đô thị hóa, tăng trưởng bất động sản và tỷ lệ dân số trẻ là những động lực thúc đẩy ngành xây dựng – nội thất Việt Nam phát triển mạnh. Với vai trò của nhà thiết kế, tôi tin rằng chỉ cần khai thác yếu tố Việt trong chính bản thân mình, biến tình yêu với văn hóa – đất nước thành ngôn ngữ thiết kế.
Người làm nghề cần trau dồi kiến thức về văn hóa vật thể Việt Nam để hiểu đúng, yêu đúng và tránh nhầm lẫn trước những nét tương đồng với các quốc gia Đông Á – Đông Nam Á khác.
Tôi luôn quan niệm: Thiết kế là dịch thuật nếp sống. Đẹp thôi chưa đủ, sự tiện dụng mới là thước đo. Nội thất phải khiến người dùng thoải mái, chứ không khiến họ e ngại mỗi khi sử dụng vì sợ làm “xấu nhà”.
Hãy Việt hóa thiết kế thông qua tỷ lệ, công năng và chất cảm phù hợp với nếp sống Việt. Để làm được điều đó, đội ngũ thiết kế nội thất và kiến trúc cần mạnh dạn gạt bỏ tâm lý tự ti của một ngành còn non trẻ, tự tin hơn với bản sắc của chính mình. Đó không chỉ là cách mang lại lợi ích cho người sử dụng, mà còn là nền tảng để khẳng định chất Việt, DNA Việt, trong từng thiết kế.
Kiến trúc sư Lê Huy có gần 20 năm gắn bó với lĩnh vực kiến trúc và thiết kế nội thất. Ông từng được vinh danh “Kiến trúc sư trẻ tiêu biểu” và sở hữu nhiều công trình đoạt Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia. Trăn trở xuyên suốt sự nghiệp của ông là việc đưa “DNA Việt” vào thiết kế nội thất. Những góc nhìn sâu sắc này đã được ông chia sẻ trong tọa đàm “Chất lượng và giá trị từ thiết kế nội thất” tại Triển lãm Nội thất & Xây dựng Việt Nam 2025 (VIBE).
Kiến trúc sư Lê Huy Trực – Giám đốc Thiết kế
kiêm Phó Tổng giám đốc TTT Corporation
Thảo Nguyên ghi
